Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bướu cổ đơn thuần

Bệnh bướu cổ đơn thuần là tình trạng sưng lên của tuyến giáp mà nguyên nhân không phải do ung thư, viêm nhiễm và cũng không có dấu hiệu tăng hoạt động hoặc giảm hoạt động của tuyến giáp. Bệnh thường gặp ở nữ nhiều hơn nam.

Các nhà khoa học đã sử dụng thuật ngữ bướu cổ đơn thuần hoặc bướu cổ không độc để chỉ cả hai loại bướu cổ địa phương và bướu cổ tản phát do chưa xác định hoặc phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của bệnh bướu cổ.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh bướu cổ đơn thuần thường do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên bao gồm: thiếu chất iốt hay gặp trong những vùng địa dư đặc biệt như ở miền núi cao và một số vùng có tuyết phủ, tuy nhiên cũng có thể gặp tình trạng thiếu iốt ở những vùng có biên độ thấp, rất xa đại dương như lục địa Trung Phi, lục địa châu u... Rối loạn nội tiết tố nữ xảy ra ở thiếu nữ tuổi dậy thì, phụ nữ có thai và trong thời kỳ tiền mãn kinh. Do chất kháng giáp có trong cây bắp cải trắng hay trong thuốc kháng giáp tổng hợp hoặc chất ngăn cản sự tải iốt như thiocyanate, perchlorate. Cây sắn cũng có thể gây bướu cổ vì có chứa cyanogenic glycosides, linamarin; chất này khi bị thủy phân sẽ giải phóng ra chất cyanide, trong cơ thể cyanide bị khử độc thành thiocyanate và chính chất này ức chế bơm iốt tuyến giáp, gia tăng sự thanh thải iốt ở thận, hậu quả dẫn đến là thiếu iốt cơ thể. Do sự bất thường trong tổng hợp nội tiết tố tuyến giáp, thiếu men ảnh hưởng đến sự sinh tổng hợp nội tiết tố tuyến giáp, có sự sai lệch bẩm sinh trong sự tổng hợp thyroxin sản xuất ra iodoprotein bất thường, có thể do dùng iốt liều cao gây ức chế tổng hợp nột tiết tố tuyến giáp với tác dụng thoáng qua. Do mất iốt vì bị tiêu chảy kéo dài, mắc hội chứng thận hư làm giảm protein tải iốt, tình trạng thai nghén làm tăng thải iốt trong nước tiểu...

Bướu cổ đơn thuầnBướu cổ đơn thuần là bướu cổ không độc nhưng cần phát hiện, điều trị và phòng bệnh phù hợp

Trong bệnh bướu cổ đơn thuần, tình trạng giảm nội tiết tố thyroxin sẽ kích thích tuyến yên tăng tiết nội tiết tố TSH (thyroid stimulating hormone) gây nên bướu giáp và tăng sản xuất nội tiết tố tuyến giáp, đây chỉ là một hiện tượng bù trừ và phản ứng tự nhiên để cung cấp cho cơ thể đủ nội tiết tố thyroxin, do đó tuyến giáp không bị suy hay giảm chức năng. Nếu nồng độ chất iốt trong máu và trong tuyến giáp giảm sẽ làm tuyến giáp phì đại để bù trừ cũng qua cơ chế này. Hiện nay bướu cổ đơn thuần thuộc loại bướu nhân chưa được giải thích rõ ràng, các nhà khoa học cho rằng bắt đầu có phì đại toàn bộ tuyến giáp và sau đó thu lại còn một hay nhiều nhân; cũng có ý kiến khác nêu ra do TSH tác dụng lên một số lượng nhỏ nang tuyến giáp và bướu dạng keo là hậu quả của bướu hay phì đại tế bào.

Triệu chứng bệnh lý, chẩn đoán và biến chứng bệnh

Bệnh nhân bị bệnh bướu cổ đơn thuần thường có tình trạng bình giáp; đối với loại bướu cổ địa phương hay còn gọi là bướu cổ dịch tễ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể nhất là ở trẻ em, làm giảm trí thông minh, gây ra chứng đần độn. Trường hợp bị bướu cổ đơn thuần đơn nhân tình cờ thấy bướu cổ lớn lên hoặc do người khác phát hiện có một khối u ở giữa cổ, sờ thấy có ranh giới rõ, không dính vào da, không đau, mềm hay chắc, di động theo nhịp nuốt lên xuống, khi bướu to có thể gây chèn ép, không có tiếng thổi tại đỉnh bướu khi nghe bằng ống nghe; đối với bướu cổ đơn thuần nhiều nhân thấy có nhiều khối tròn đường kính từ 0,5 đến vài centimét. Ngoài triệu chứng lâm sàng được xác định, có thể thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết để giúp cho việc chẩn đoán bệnh.

Chẩn đoán bệnh bướu cổ đơn thuần cần lưu ý vì bệnh thường diễn biến kín đáo, không có triệu chứng cơ năng rõ ràng; bướu cổ có thể do người bệnh hoặc người chung quanh phát hiện hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát. Khám tuyến giáp thấy tuyến giáp phì đại lớn ra nằm ở giữa cổ, có ranh giới rõ, không dính vào da, có thể có tuyến lớn lan tỏa hoặc ở dạng những nốt nhỏ, di động theo nhịp nuốt, không đau; một tuyến giáp có thể tích bình thường không bao giờ sờ thấy dù cho người bệnh rất gầy. Khi khám lâm sàng cần kết hợp nhìn và sờ nắn, bác sĩ đứng phía trước người bệnh nhìn vào tuyến giáp và dùng hai ngón tay cái để sờ tuyến giáp; khi sờ cần định rõ ranh giới, độ lớn, mật độ của bướu, cùng lúc cho người bệnh nuốt thấy bướu sẽ di động theo nhịp nuốt. Bướu cổ đơn thuần thường có mật độ mềm trong trường hợp bướu giáp nhu mô lan tỏa, cũng có khi mật độ chắc thường thấy trong trường hợp bướu giáp thể nhân. Bướu cổ lớn có thể gây nên các dấu hiệu chèn ép cơ quan và tổ chức chung quanh như chèn ép khí quản gây khó thở, chèn ép dây thần kinh quặt ngược gây khó nói, nói khàn, nói hai giọng; chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây phù kiểu áo khoác gồm phù ở mặt, cổ, lồng ngực, hai tay kèm tuần hoàn bàng hệ ở ngực. Sau khi sờ nắn bướu cổ, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất để có cơ sở giúp theo dõi diễn biến qua quá trình điều trị.

Trên thực tế, việc chẩn đoán xác định bệnh bướu cổ đơn thuần có thể căn cứ vào yếu tố dịch tễ và triệu chứng lâm sàng cũng đủ điều kiện để chẩn đoán; trường hợp bướu cổ lẻ tẻ nên khám kỹ hơn về lâm sàng và xét nghiệm để thăm dò chức năng của tuyến giáp. Tuy nhiên cũng cần phải chẩn đoán phân biệt đối với một số trường hợp bệnh lý khác để tránh nhầm lẫn như: Bướu cổ có suy tuyến giáp chỉ khác nhau về triệu chứng suy giáp. Bướu cổ có cường giáp như bệnh Basedow, bướu giáp độc lâm sàng có dấu hiệu cường giáp; với tính chất đặc biệt của bướu và xét nghiệm cận lâm sàng sẽ giúp cho chẩn đoán dễ. Bướu giáp đơn thuần kết hợp với rối loạn thần kinh thực vật có triệu chứng giống nhau là có bướu cổ, kèm dễ mệt, hay hồi hộp, nhịp tim nhanh nhưng nhịp tim dễ trở lại bình thường khi nghỉ ngơi hay dùng thuốc an thần, lòng bàn tay có nhiều mồ hôi nhưng không nóng, các xét nghiệm thăm dò chức năng tuyến giáp bình thường. Bướu giáp đơn thuần ái tính với iốt nhưng không có dấu hiệu cường giáp. Ung thư tuyến giáp có dấu hiệu tuyến giáp rất cứng, có thể có triệu chứng chèn ép và hạch di căn, cần xét nghiệm sinh thiết để loại trừ. Viêm tuyến giáp bán cấp tính và mạn tính, bướu giáp lan tỏa, có khi nhiều nhân, cứng, tốc độ lắng máu tăng, sinh thiết tổ chức tuyến giáp để loại trừ. Ung thư ngoài tuyến giáp thường không di động theo nhịp nuốt.

Bệnh bướu cổ đơn thuần có thể gây nên những biến chứng cần lưu ý gồm: Xuất huyết trong bướu làm bướu to nhanh, đau và nóng, có dấu hiệu chèn ép cấp tính. Cường giáp thường xảy ra ở loại bướu cổ có nhiều nhân, bướu cổ diễn biến lâu năm, Basedow hóa phần tuyến bình thường xen kẽ giữa các nhân thường do cung cấp iốt quá nhiều. Bị ung thư hóa sau một thời gian mắc bệnh bướu cổ. Riêng đối với bướu cổ do thiếu iốt ở người mẹ mang thai có thể ảnh hưởng đến sự chậm phát triển về tinh thần và thể chất của thai nhi.

Điều trị và phòng bệnh

Việc điều trị bệnh bướu cổ đơn thuần phải bảo đảm các nguyên tắc để bình thường hóa nồng độ nội tiết tố của tuyến giáp mà không đòi hỏi tuyến giáp phải tăng hoạt động và phì đại ra. Vì vậy nếu nguyên nhân gây bệnh do thiếu iốt thì cung cấp iốt, nếu không do thiếu iốt thì cung cấp thêm nội tiết tố tuyến giáp tổng hợp. Trong trường hợp bướu cổ đơn thuần do thiếu iốt, nếu điều trị bằng iốt hay nội tiết tố tuyến giáp sẽ làm cho tuyến nhỏ lại nhiều hay ít và sự thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian xuất hiện bướu, kích thước bướu, độ xơ hóa của bướu... Trong những nguyên nhân khác gây nên bướu cổ đơn thuần lan tỏa không độc thì levothyroxine có thể được dùng với mục đích nhằm giảm kích thước của tuyến giáp.

Phòng bệnh bướu cổ đơn thuần được thực hiện tùy theo từng trường hợp. Đối với vùng thiếu iốt, triển khai các biện pháp gồm: cung cấp muối iốt hóa với nồng độ iốt trộn vào muối được khuyến cáo là 1 phần iốt cho 10.000 - 100.000 phần muối bằng cách dựa trên sự tiêu thụ khoảng 5 - 10g muối mỗi ngày sẽ cung cấp khoảng 50 - 500µg iốt mỗi ngày; hiện nay dùng iodat bền vững hơn iodure do đặc tính ổn định của nó trong vùng nhiệt đới ẩm thấp; lưu ý khi sử dụng muối iốt có khoảng 20% iốt bị mất đi từ khi sản xuất cho đến khi sử dụng, khoảng 20% iốt bị hư biến trong quá trình chế biến thức ăn; lượng muối sử dụng trung bình trong ngày là 10g thì cách trộn kali iodat hoặc iodure kali khoảng 20 - 25mg/kg muối tương ứng nhu cầu trung bình là 150 - 300µg iốt mỗi ngày; sự cung cấp được đánh giá tốt khi nồng độ iốt trong nước tiểu trung bình từ 100 - 200µg iốt trong mỗi lít nước tiểu. Dùng dầu iốt là lipiodol bằng đường uống với 1ml chứa 480mg iốt, dùng liều duy nhất 1ml để dự phòng được 1 - 2 năm; có thể tiêm bắp thịt với liều 0,5 - 1ml, trong 1ml chứa 480mg iốt có thể dự phòng bệnh bướu cổ và chứng đần độn địa phương trong 3 - 5 năm; trẻ em dưới 1 tuổi dùng liều 0,5ml tiêp bắp thịt ở mông; trẻ em trên 1 tuổi và người lớn dùng liều 1ml tiêm bắp thịt ở tay. Dùng nước pha iốt với loại dung dịch đậm đặc I2, IK hay KIO3 cho vào nước uống đạt nhu cầu 150µg mỗi ngày. Dùng dung dịch lugol với 5g I2 cọng với 10g IK trong 100ml hoặc 6mg iốt chứa trong 1 giọt lugol sẽ cho tác dụng ngắn hơn so với loại dầu iốt, vì vậy nên dùng nhiều lần trong ngày. Như vậy có nhiều cách bổ sung iốt để phòng bệnh bướu cổ đơn thuần do thiếu iốt nhưng biện pháp iốt hóa muối sử dụng là phương pháp được ưa chuộng nhất trong việc bổ sung iốt ở quần thể dân cư thiết hụt iốt gây bệnh.

Lời khuyên của thầy thuốcBướu cổ đơn thuần còn được gọi là bướu cổ không độc bao gồm cả loại bướu cổ địa phương và loại bướu cổ tản phát; chúng có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng những biểu hiện triệu chứng lâm sàng đều phản ánh các cơ chế sinh lý bệnh chung. Các yếu tố gây nên bướu cổ đơn thuần có thể là yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh. Đối với những trường hợp nghi ngờ bị mắc bệnh bướu cổ đơn thuần phải được khám và thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định bệnh nhằm có biện pháp điều trị phù hợp. Việc chủ động phòng bệnh cũng rất cần thiết vì ở những vùng có bệnh bướu cổ lưu hành thì người dân chỉ cần đến ở tại đây khoảng 4 - 5 tháng là các yếu tố gây nên bệnh bướu cổ đã có thể tác động ảnh hưởng lên tuyến giáp và gây ra những thương tổn đầu tiên của quá trình phát triển bướu cổ.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Quảng Ninh: Cứu sống thanh niên bị đâm trọng thương thấu thành bụng

Thông tin từ BV Sản Nhi Quảng Ninh cho biết, vào hồi 17h20 ngày 10/8/2017, Khoa khám bệnh cấp cứu lưu của BV đã tiếp nhận bệnh nhân Phạm Xuân T. (24 tuổi), thường trú tại TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong tình trạng nguy kịch, vết thương chảy máu dữ dội, da niêm nhợt, huyết áp tụt do mất máu nhiều...

Qua kiểm tra, hội chẩn các bác sĩ kết luận đây là vết thương thấu bụng phức tạp do bị một vật sắc nhọn tác động mạnh vào mạn sườn trái. Bệnh nhân được băng ép, cầm máu, truyền dịch, giảm đau và chuyển mổ cấp cứu ngay sau đó.

Tại phòng mổ, các bác sĩ tiến hành gây mê nội khí quản và xử trí vết thương nằm trên bờ sườn trái, cách hõm nách 25cm, cách cột sống 7cm; bờ vết thương sắc gọn dài 6,5cm đi từ sau ra trước, từ trên xuống dư ới đi qua hết da, tổ chức dưới da, đứt hoàn toàn khối cơ thắt lưng trái, đứt động mạch liên sườn 8,9 chạm phúc mạc thành bụng. Bệnh nhân được khâu cầm máu và đóng vết thương theo các lớp giải phẫu.

Sau hơn 1 giờ phẫu thuật, ca mổ đã thành công. Hiện bệnh nhân đã qua cơn nguy kịch và đang tiếp tục theo dõi điều trị tại phòng hậu phẫu. Kíp mổ do BS. Nguyễn Quốc Hùng, BS. Đỗ Hoàng Việt và kíp gây mê do BS gây mê Bùi Ngọc Quang; BS. Nguyễn Thành Công cùng các kỹ thuật viên tiến hành.

Bác sĩ Đỗ Hoàng Việt cho biết: Trong trường hợp này nếu bệnh nhân không được phẫu thuật cấp cứu kịp thời, bệnh nhân sẽ tử vong do mất máu.

Theo lời kể của người nhà bệnh nhân, chiều ngày 10/8/2017, do mâu thuẫn cá nhân, anh T. bị người khác dùng vật sắc nhọn đâm thẳng vào bụng. Sau đó, anh T. được người nhà đưa đi cấp cứu tại BV Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh.

D.Hải

Chữa căn bệnh “triệu người cùng mắc” chỉ nhờ uống nghệ

Dạ dày là căn bệnh phổ biến không chỉ trên thế giới mà ngay cả nước ta. Theo thống kê, tại các nước phương Tây, tỷ lệ mắc bệnh viêm loét dạ dày chiếm khoảng 10% dân số, còn ở nước ta, tỷ lệ này chiếm khoảng 26% và là một trong số các căn bệnh đứng top đầu trong các bệnh về đường tiêu hóa. Mặc dù viêm loét dạ dày là bệnh không gây tử vong nhưng nếu không điều trị dứt điểm hoặc tuân thủ các biện pháp dự phòng, bệnh dễ quay trở lại thậm chí người bệnh có thể gặp những biến chứng nặng nề.

Kinh tế xã hội càng phát triển, đời sống của con người càng được nâng lên cũng đồng nghĩa với việc con người phải đối mặt với nhiều áp lực của cuộc sống, bệnh đau dạ dày càng có cơ hội “hỏi thăm”.

Uống thuốc điều trị dạ dày mà không hết đau

Chị Nghiêm Kim H. (Ba Đình, Hà Nội) cho biết, vốn là một doanh nhân, sở hữu một công ty gia đình nhỏ, chị rất bận rộn. Vì tính chất công việc chị H thường xuyên phải đi sớm về muộn, việc ăn uống rất thất thường, có lúc 3 giờ chiều mới được ăn trưa hoặc 9 giờ tối mới ăn bữa cuối. Thêm vào đó, chị còn hay phải đi tiếp khách hàng, nên bệnh dạ dày của chị thường xuyên tái phát, chữa mãi không khỏi. Được bạn bè, người quen mách bảo ở đâu có thuốc gì mới, thuốc gì hay chị đều nhờ mua cho bằng được để dùng, vậy mà bệnh vẫn cứ “đeo đẳng” mãi không thôi.

Cô B. ở Phúc Thọ tâm sự, cô bị đau xương khớp nhiều năm và thường phải dùng các loại thuốc giảm đau, điều này khiến việc điều trị bệnh dạ dày 10 năm chưa khỏi của cô chưa có kết quả. Trớ trêu là cứ chữa bệnh này thì bệnh sau lại đến, nó như một vòng luẩn quẩn quấn lấy cô khiến cô khổ sở bao năm.

Nghệ trở thành cứu cánh trị bệnh dạ dày chữa mãi không khỏi

Nghe bạn bè mách dùng nghệ mật ong chữa bệnh dạ dày, chị H cũng đi tìm kiếm nguồn nghệ để dùng. Chị cho rằng hiện nay tinh nghệ hay bột nghệ bán rất nhiều nhưng chủ yếu đều là sản phẩm thủ công do các cơ sở tư nhân tự phát làm ra nên không đảm bảo về an toàn và vệ sinh thực phẩm. Hơn nữa chị được biết, hoạt chất có tác dụng tốt nhất của củ nghệ là curcumin vừa có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm độ axít trong dịch vị dạ dày, chống viêm và làm lành vết loét… Tuy nhiên các cơ sở gia công không chiết tách được vỏ nghệ, đây là thành phần có hại cho gan, nên chị H tìm đến các sản phẩm nano nghệ. Như một phép màu, mới đây nhờ người quen giới thiệu chị lại biết đến công nghệ Nano Micelles hỗ trợ chữa bệnh dạ dày.

Cũng giống chị H, khi được biết đến một loại dược liệu ít có tác dụng phụ và hoàn toàn từ tự nhiên, cô B. – người hàng chục năm sống chung với các loại thuốc như tìm được “vị cứu tinh”. Cô tìm hiểu và cho biết, nghệ đã được nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh có tác dụng chữa bệnh, nhất là bệnh dạ dày. Cô đã tìm đến tất cả các sản phẩm từ nghệ trên thị trường hiện nay từ nghệ tươi, bột nghệ, tinh nghệ hay nano nghệ, nhưng vẫn chưa dừng lại ở một sản phẩm nào.

Theo các nghiên cứu khoa học, hoạt chất chính có tác dụng lên bệnh dạ dày chính là curcumin có rất ít trong nghệ tươi hay tinh bột nghệ. Hàm lượng curcumin trong nghệ tươi chỉ chiếm 0,3% với kích thước phân tử lớn, độ hấp thu vào cơ thể gần như không hiệu quả. Còn tinh bột nghệ, hàm lượng curcumin chiếm 3-6%, với kích thước phân tử 0,2mm, hấp thu vào cơ thể không đáng kể. Với nano curcumin thông thường, hàm lượng curcumin chiếm 85 -93%, kích thước phân tử 70 -100nm, độ hấp thụ (sinh khả dụng) gấp 40 lần so với tinh chất thông thường.

Nano Micelles là công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất hiện nay, đạt tiêu chuẩn châu u, có khả năng cải thiện toàn diện tất cả các yếu tố: Tốc độ hấp thu, khả năng hấp thu, sinh khả dụng. Đặc biệt tăng sinh khả dụng 185 lần, mức độ cao nhất từ trước đến nay mang lại hiệu quả trong việc hỗ trợ điều trị cao hơn so với Nano Curcumin thế hệ cũ.

Và một sản phẩm cực kỳ ưu việt đã ra đời với công nghệ tiên tiến nhất được biết đến hiện nayvà được sản xuất theo công nghệ tiên tiến Nano-micelles, giúp tạo ra những hạt phân tử curcumin với kích thước siêu nhỏ chỉ 30 nm và kết hợp thêm 1 nhóm phân tử micells có đầu ưa nước, có khả năng hấp thu hoàn toàn vào cơ thể chỉ sau 1 giờ 10 phút, phát huy sinh khả dụng gấp 185 lần so với tinh nghệ thông thường. Một viên tinh chất nghệ này tương đương hiệu quả 5,5Kg nghệ tươi. Nghệ viên này được sản xuất và nhập khẩu 100% từ Cộng hòa Liên bang Đức.

Trần Hải


Nghệ Micell ADIVA - Giải pháp chuyên biệt cho người đau dạ dày

Được sản xuất và ứng dụng công nghệ micelles 100% từ Đức, đột phát vỏ nang Gelatin chiết xuất từ thực vật, sinh khả dụng gấp 185 lần. Bổ sung mỗi ngày 1 viên Nghệ Micell ADIVA, giải pháp bảo vệ hiệu quả sức khỏe dạ dày, giúp giảm tổn thương niêm mạc dạ dày, chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả.

Truy cập website:ADIVA.COM.VN hoặc liên hệ: 1900 555 552

Sản phẩm có bán tại nhà thuốc, siêu thị trên toàn quốc.

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.



Cách đơn giản nhất để phòng bệnh, tăng cường sức khỏe mà không tốn lấy một xu

Lợi ích của việc thở đúng cách

-Đào thải độc tố trong cơ thể: Khi hít thở đúng cách, hơi thở sẽ giúp thanh lọc cơ thể. Dưỡng khí được lấy vào để nuôi tế bào, đồng thời khí độc và CO2 sẽ được tống ra ngoài.

-Giảm nguy cơ ung thư: Tiến sĩ Otto Heinrich Warburg - nhà hóa học kiêm sinh vật học tế bào hàng đầu người Đức đã đạt giải Nobel Y học năm 1931 nhờ một chứng minh quan trọng: "Lấy đi 35% oxy của tế bào trong 48 giờ thì tế bào đó có thể trở thành ung thư.”. Bạn có thể thấy hít thở đúng để cung cấp đủ oxi cho tế bào quan trọng như thế nào.

-Thay đổi tâm trạng: Hít thở đúng cách giúp cho lượng serotonin - một chất được não sản xuất ra quyết định tâm trạng và khả năng tập trung của con người - tăng lên rất nhiều. Điều đó sẽ khiến bạn không còn thấy mệt mỏi, khả năng tập trung cao, mạnh mẽ và chịu áp lực tốt, đẩy lùi những suy nghĩ không tốt, sự đau khổ trong tinh thần.

-Giảm cân: Khi thở đúng cách, vùng cơ bụng sẽ được vận động nhiều hơn bình thường. Quá trình này sẽ tác động đến các vùng mỡ thừa, làm tiêu hao năng lượng tích tụ ở đây. Kiểm soát cân nặng cũng là cách để giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư, tim mạch, mỡ máu…

Đa số chúng ta đang thở sai cách

Lúc sinh ra, tất cả chúng ta đều thở bằng bụng, tức là sử dụng toàn bộ chức năng của phổi. Tuy nhiên, khi lớn lên, chúng ta lại sử dụng cách kém hiệu quả hơn là thở bằng ngực.

Thể tích của lồng ngực chúng ta bị hạn chế bởi hệ thống xương sườn. Do đó, thở bằng ngực sẽ khiến cho phổi của không thể dãn nở tối đa. Thêm vào đó, thở bằng ngực khiến cho khí cặn đọng lại ở đáy phổi- nơi có nhiều mạch máu ấm áp và ẩm ướt nhất - tức là nơi trao đổi khí và vận chuyển ôxy vào máu hiệu quả nhất.

Bạn có thể kiểm tra xem mình có thở đúng hay không bằng cách quan sát sự chuyển động của lồng ngực khi thở. Nếu khi thở lồng ngực di chuyển là chúng ta đang thở sai cách.

Cách tập thở giúp đẩy lùi bệnh tật

Thở đúng là thở đằng mũi, thở dài hơi, nhịp nhàng và thở sâu. Muốn vậy chúng ta nên tìm cách thở bụng: Thở bụng giúp hấp thu nhiều khí vào cơ thể hơn là thở ngực nhờ động tác hạ thấp cơ hoành để mở rộng thêm thể tích lồng ngực về phía dưới. Đồng thời thở bụng giúp tống khí thở ra mạnh hơn nhờ động tác dâng cao cơ hoành do thót bụng.

Tư thế: Bạn có thể tập trong tư thế nằm, ngồi hay đứng đều được. Nhưng tư thế dễ nhất để tập thở bụng là thở trong lúc nằm.

Động tác: Nhẹ nhàng hít vào qua mũi, phìn bụng cho cơ hoành đẩy xuống. Giữ hơi thở lại trong vòng 2-3 giây rồi thở ra bằng miệng, xẹp bụng lại. Hít vào thong thả, nhịp nhàng, thở ra sâu, đều để đẩy hết khí ra ngoài.

Mỗi ngày bạn có thể tập 2-3 lần, mỗi lần 15 phút hoặc tập bất cứ khi nào bạn nhớ ra: Lúc làm việc, nấu nướng, trước khi đi ngủ, lúc mới thức dậy… Dần dần bạn sẽ thấy sức khỏe của mình biến chuyển một cách bất ngờ.

Số: 01599/2016/XNQC-ATTP

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Rối loạn giấc ngủ và bệnh tăng huyết áp

Khi nào được gọi là huyết áp ổn định?

Ở đây muốn đề cập đến huyết áp ổn định tức là huyết áp bình thường (không cao, không thấp). Ở người bình thường (người trưởng thành) có chỉ số huyết áp là 120/ 80mmHg, đây được gọi là huyết áp mục tiêu, có nghĩa là mọi người bình thường đều có được chỉ số huyết áp này. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định, một người bình thường có chỉ số huyết áp là dưới 140/90mmHg, riêng người bị đái tháo đường, huyết áp cần có chỉ số dưới 130/80mmHg. Tuy vậy, do nhịp sinh học, huyết áp của một người bình thường cũng có dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc thức giấc (gia tăng nhiều hay ít tùy thuộc vào sự vận động và trạng thái tinh thần). Vì vậy, lúc ngủ huyết áp đỉnh sẽ thấp hơn lúc làm việc bình thường khoảng 20mmHg, cao hơn đỉnh lúc buổi chiều là 10%. Huyết áp bình thường cũng có thể thay đổi và biến thiên theo thời gian (huyết áp thấp nhất vào khoảng từ 1 - 3 giờ sáng, lúc đang ngủ say và huyết áp cao nhất vào khoảng từ 8 - 10 giờ sáng).

Rối loạn giấc ngủ và bệnh tăng huyết áp

Thế nào là giấc ngủ bình thường?

Một bé sơ sinh ngủ gần như suốt ngày, thỉnh thoảng thức giấc để ăn, bú. Thanh niên hoặc trung niên ngủ trung bình 8 - 9 giờ mỗi ngày. Với người cao tuổi ngủ sẽ ít hơn nhiều (khoảng 5 - 6 giờ, thậm chí 4 - 6 giờ), nhưng thường dễ bị thức giấc giữa chừng (lo nghĩ, đi tiểu…), nhất là các cụ ông bị bệnh tăng sinh lành tính tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, vấn đề không phải là ngủ nhiều hay ngủ ít giờ, chủ yếu là chất lượng giấc ngủ có tốt hay không? Ngủ tốt là giấc ngủ sâu, êm đềm, không mộng mị, không thức giấc và mỗi sáng khi thức dậy cảm thấy sảng khoái, dễ chịu, đó mới là giấc ngủ tốt, đặc biệt là người cao tuổi.

Khi thức, tim đập nhanh hơn để đưa máu đi khắp cơ thể, còn khi ngủ, cơ thể không đòi hỏi lưu lượng máu nhiều

Rối loạn giấc ngủ có thể làm tăng huyết áp

Theo các chuyên gia, mất ngủ và tăng huyết áp có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau. Vì vậy, khi một người bị rối loạn giấc ngủ liên tục, kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng (ngủ ít, ngủ không sâu, hay mộng mị, hay bị thức giấc hoặc khi thức giấc rất khó để ngủ lại…) sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của huyết áp. Các nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan giữa tăng huyết áp và thiếu ngủ. Thiếu ngủ có thể do số giờ ngủ ít hoặc chất lượng giấc ngủ kém sẽ tăng áp lực lên tim. Đó là lý do vì sao khi thức, tim đập nhanh hơn để đưa máu đi khắp cơ thể, còn khi ngủ, cơ thể không đòi hỏi lưu lượng máu nhiều, do đó, nhịp tim chậm và tim được nghỉ ngơi nhiều hơn. Khi không có thời gian nghỉ ngơi nhiều, cơ tim sẽ bị mệt và dễ lâm bệnh. Do tim phải hoạt động nhiều, liên tục (nếu ngủ càng ít, tim càng phải hoạt động nhiều hơn) huyết áp có thể tăng. Bởi vì, huyết áp là áp lực của máu tác động vào thành mạch, ảnh hưởng bởi lực co bóp của cơ tim. Như vậy, ở những người ít ngủ, thiếu ngủ, thường xuyên phải thức, tim và hệ mạch máu phải hoạt động nhiều hơn nên dễ gây ra các rối loạn hoạt động của hệ tim mạch dẫn đến bệnh THA. Mặt khác, huyết áp không chỉ bị ảnh hưởng bởi bản thân thành mạch máu mà còn chịu tác động từ các bó thần kinh xung quanh đó. Đây là một phát hiện mới, mang tính đột phá của các nhà nghiên cứu tại Đại học King London Anh quốc. Họ tuyên bố rằng khám phá này đủ để đánh dấu mốc cho một “sự thay đổi nền tảng” trong hệ thống kiến thức chúng ta sử dụng, nhìn nhận và điều trị các vấn đề huyết áp. Nó sẽ mở ra một con đường can thiệp mới vào huyết áp, giúp hàng trăm ngàn người giảm thiểu nguy cơ đau tim và đột quỵ. Phát hiện mới cũng là cơ sở giải thích tại sao căng thẳng và cảm xúc cũng có thể ảnh hưởng tới huyết áp. Thành mạch máu, bản thân nó không liên quan đến xúc cảm và não bộ, nhưng các dây thần kinh thì có. Như vậy, khi rối loạn gấc ngủ càng làm mệt mỏi, căng thẳng thần kinh sẽ ảnh hưởng xấu đến huyết áp.

Bệnh tăng huyết áp có thể làm rối loạn giấc ngủ

Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ như do tác động xấu tâm lý (về hưu, mất việc làm, đổi chỗ ở, ly dị, nhà ở chất chội, hay có cãi vã trong gia đình, hàng xóm…). Hoặc mất ngủ do mắc bệnh trầm cảm hoặc do bị bệnh mạn tính (đau xương khớp, viêm đường tiết niệu phải đi tiểu nhiều, nhất là ban đêm, bệnh tiền liệt tuyến ở nam giới, do bệnh tim, bệnh hen suyễn…). Trong đó có bệnh THA làm ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ. Bởi vì, các nhà nghiên cứu kết luận rằng ngủ không đủ thời gian cần thiết sẽ ảnh hưởng đến khả năng đốt cháy calo, do đó sẽ làm tăng nguy cơ tăng cân, béo phì. Họ thấy rằng những phụ nữ nếu ngủ 7 - 8 giờ mỗi đêm nguy cơ tăng cân là rất thấp. Nhưng ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm có nhiều khả năng bị béo phì. Béo phì là một trong những nguyên nhân làm tăng mỡ máu, từ đó sẽ làm xơ vữa động mạch gây THA.

Rối loạn giấc ngủ và bệnh tăng huyết ápNên vận động cơ thể hàng ngày để khí huyết lưu thông và tinh thần luôn sảng khoái, vui vẻ

Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cho rằng rối loạn giấc ngủ có nguy cơ làm gia tăng bệnh đái tháo đường do khả năng duy trì đường huyết ở mức độ phù hợp giảm đáng kể, trong khi đó bệnh đái tháo đường là một trong những nguyên nhân gây THA.

Mối liên quan giữa ngủ và bệnh tăng huyết áp

THA thường gây ra các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó chịu khiến người bệnh khó vào giấc, trằn trọc trong đêm và hậu quả là thiếu ngủ, mất ngủ. Ngủ không đủ giấc khiến cơ thể không được nghỉ ngơi lại làm cho huyết áp tăng lên “chóng mặt” và rồi lại mất ngủ. Càng không ngủ được, huyết áp càng tăng cao, hoạt động của tim vì thế cũng ảnh hưởng nhiều. Do đó, người mất ngủ, thiếu ngủ thời gian dài có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp, tim mạch và nguy cơ tai biến cao hơn. Bên cạnh đó, khi huyết áp tăng cao sẽ thường xuyên rối loạn giấc ngủ (khó ngủ, mất ngủ, ngủ không sâu, dễ bị tỉnh giấc, buổi sáng thường thức dậy sớm nhưng ban ngày hay buồn ngủ, ngủ gật). Vì vậy, THA và mất ngủ cứ tạo thành một vòng tròn luẩn quẩn.

Lời khuyên của thầy thuốc

Người cao tuổi nên làm gì để huyết áp ổn định và có giấc ngủ tốt?

Ở đây chỉ đề cập đến vấn đề người cao tuổi đã bị THA làm thế nào để giữ được huyết áp ổn định ở mức độ cho phép giúp có giấc ngủ tốt. Muốn vậy, người cao tuổi hoặc người nhà phải kiểm soát được huyết áp của mình hoặc người nhà của mình. Để làm tốt điều này cần đo huyết áp hàng ngày hoặc vài ngày một lần (tất nhiên phải biết đo huyết áp, nếu không biết đo huyết áp phải đến cơ sở y tế gần nhất, tin cậy nhất), trước khi đo huyết áp người bệnh nghỉ ngơi, thoải mái, không lo lắng, buồn phiền gì ít nhất từ 15 - 20 phút, không uống rượu, bia, cà phê, trà đặc hoặc không hút thuốc, chưa ăn uống gì. Cần khám bệnh định kỳ để ngoài việc được kiểm tra huyết áp còn được xét nghiệm các chỉ số về mỡ máu, chức năng gan, siêu âm… Cần uống thuốc đều đặn hàng ngày theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh cho mình, không được bỏ thuốc, không tự động thay đổi liều lượng hoặc không tự động thay thuốc. Nên vận động cơ thể hàng ngày để khí huyết lưu thông và tinh thần luôn sảng khoái, vui vẻ. Cần có chế độ ăn, uống hợp lý.

TTƯT.PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Phát hiện 13 loại ung thư nhờ một xét nghiệm máu

13 loại ung thư bao gồm: Ung thư dạ dày, đại trực tràng, thực quản, tuyến tụy, gan, tuyến mật, ung thư phổi, vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt, bàng quang, u xương và mô mềm, u não thể glioma. Các nhà khoa học đã thử nghiệm và chẩn đoán chính xác trên 40.000 mẫu máu đông lạnh từ những bệnh nhân ung thư. Các chuyên gia đã sử dụng các phân tử RNa không mã hóa nhỏ, được gọi là miRNA để phát hiện các tế bào ung thư có trong mạch máu và kiểm soát các chuyển động của gene. Tác giả chính - TS. Takahiro Ochiya cho biết: “Phương pháp xét nghiệm máu này có thể dự đoán chính xác 96% ung thư giai đoạn đầu. Ung thư vú được chẩn đoán chính xác với tỉ lệ 97%”. Hiện nay, chưa có xét nghiệm nào có thể chẩn đoán và phát hiện nhiều loại ung thư, do đó xét nghiệm máu này sẽ trở thành một bước tiến lớn trong y học. Tuy nhiên, xét nghiệm máu này vẫn chưa được ứng dụng lâm sàng, do đó, các nhà khoa học Nhật Bản đang xin cấp phép từ chính phủ. “Nếu được chấp thuận, đây sẽ là cách chúng ta kiểm tra ung thư trong tương lai”, TS. Takahiro Ochiya.

Quốc cường

((Theo IFLscience, 8/2017))

10 loại vắcxin tất cả người lớn đều cần

Ngược lại, vấn đề tiêm ngừa cho người lớn hình như ít được quan tâm hơn. Có lẽ mọi người có suy nghĩ chỉ có trẻ nhỏ mới cần được tiêm vắcxin.

Trung bình mỗi ngày khoa Nhi BV. Nguyễn Tri Phương tiếp nhận và chích ngừa cho khoảng 100 lượt trẻ. Điều đáng nói, hầu hết đều trong độ tuổi dưới 5 tuổi, trẻ lớn và người trưởng thành rất ít.

Khoảng tháng 7/2016, chỉ trong vòng 1 tháng, một ổ dịch bạch hầu tại Bình Phước đã bùng phát và đã khiến 3 người tử vong và 28 người nhập viện cấp cứu. Sau đó đầu năm 2017, một ổ dịch bạch hầu khác cũng được phát hiện tại Quảng Nam làm 2 người chết. Điều đáng nói là bệnh này hoàn toàn có thể ngừa được bằng cách tiêm vắcxin.

Theo Parents, hàng năm, thế giới ghi nhận có hơn 600.000 người lớn chết vì các bệnh vốn có thể phòng tránh bằng vắcxin.

Vắcxin không những bảo vệ bạn mà còn bảo vệ những người chung quanh bạn. Vắcxin giúp mỗi cá nhân được chích ngừa không mắc các bệnh truyền nhiễm, đồng thời cũng giúp những người chưa được tiêm ngừa bằng cách tạo ra “cộng đồng miễn dịch”. Khi hầu hết mọi người trong cộng đồng được chủng ngừa, cơ hội bộc phát dịch bệnh sẽ giảm đi đáng kể. Điều này bảo vệ những người dễ bị bệnh như trẻ còn quá nhỏ chưa thể chủng ngừa, những người đang được hóa trị liệu, người già và một số người không thể được chủng ngừa vì điều kiện sức khỏe. TS. Anita Chandra-Puri, phát ngôn viên của Viện Hàn lâm nhi khoa Mỹ, đồng thời là bác sĩ nhi khoa tại Hiệp hội Y khoa Northwestern ở Chicago, cho rằng: “Khi người lớn được tiêm chủng, nó có thể kiềm chế sự lây lan của bệnh sang trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ - những trường hợp còn quá nhỏ để có thể tiêm vắcxin hoặc chưa được bảo vệ đầy đủ”.

Người ta ước tính mỗi năm vắcxin giúp ngăn ngừa được 2 - 3 triệu ca tử vong trên toàn thế giới.

10 loại vắcxin tất cả người lớn đều cần

1. Vắcxin cúm

Mỗi năm có khoảng 40.000 người chết vì bệnh cúm. Trẻ sơ sinh có thể bắt đầu tiêm ngừa cúm từ 6 tháng tuổi. Nhưng trước đó, trẻ đặc biệt dễ bị tổn thương bởi loại virút chết người này. Phụ nữ mang thai cũng dễ gặp các biến chứng củacảm cúmhơn là các triệu chứng thông thường.

CDC (Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh của Mỹ) và các chuyên gia về cúm đề nghị, mỗi người nên tiêm ngừa 1 liều vắcxin cúm mỗi năm. Tại sao? Vì vắcxin mỗi năm được dựa trên 3 hoặc 4 chủng virút cúm có nguy cơ lây lan vào mùa đó. Bạn có thể tiêm vắcxin cúm bất cứ lúc nào trong suốt mùa cúm, tốt nhất tiêm trước khi mùa cúm bắt đầu khoảng 1 tháng.

Những đối tượng sau càng cần phải được chích ngừa cúm:

- Người lớn từ 50 tuổi trở lên.

- Người sống ở nhà dưỡng lão.

- Người có bệnh tim phổi mạn tính như: hen phế quản, COPD, bao gồm trẻ bị hen suyễn.

- Người lớn hay trẻ em bị các bệnh đái tháo đường hay thận mạn tính.

- Người lớn hay trẻ em bị nhiễm HIV hay được ghép tạng.

- Trẻ từ 6 tháng đến 18 tuổi phải dùng aspirin lâu ngày.

- Phụ nữ có thai trong giai đoạn có mùa cúm.

- Những người có nguy cơ bị lây nhiễm cao như: nhân viên y tế, người sống chung với người có nguy cơ bị biến chứng do cúm cao.

- Những người tiếp xúc thường xuyên với trẻ dưới 6 tháng tuổi, những người làm giúp việc gia đình

2. Vắcxin uốn ván và bạch hầu (TD) hoặc bạch hầu, ho gà, uốn ván (TdAP hay DTAP)

Tiêm ngừa giúp bạn chống lại bệnh uốn ván (một căn bệnh gây ra do nhiễm trùng bởi vi khuẩn), bạch hầu (nhiễm trùng đường hô hấp) và ho gà.

Vi khuẩn gây ra uốn ván xâm nhập vào cơ thể thông qua vết thương hoặc các vết đứt. Uốn ván có thể dẫn đến co thắt, co cứng cơ hoặc cứng hàm nghiêm trọng, khiến bạn không thể mở miệng hoặc nuốt và một số trường hợp có thể gây tử vong.

Một mũi tiêm 3 trong 1 (bạch hầu - ho gà - uốn ván) hoặc loại 2 trong 1 (bạch hầu - uốn ván) nhắc lại mỗi 10 năm có thể giúp bạn phòng uốn ván. Với các bà mẹ mang thai, để phòng uốn ván khi sinh, hãy tuân thủ đúng lịch tiêm phòng uốn ván được khuyến cáo cho bà mẹ mang thai.

Trẻ sơ sinh đặc biệt dễ mắc bệnh trong 6 tuần đầu tiên bởi chúng không đủ tuổi chủng ngừa. Liều TD bổ sung được khuyến cáo tiêm lại mỗi 10 năm nhưng TdAP chỉ cần tiêm 1 liều duy nhất.

Tiêm phòng vắcxin uốn ván, bạch hầu và ho gà kết hợp nếu trong độ tuổi từ 19 - 64. Hoặc bạn đã tiêm chủng ngừa uốn ván mũi cuối cùng đã hơn 10 năm trước đây. Hoặc bạn có một vết thương dễ bị viêm nhiễm và vắcxin uốn ván bạn đã tiêm cách đây 5 năm trở lên.

10 loại vắcxin tất cả người lớn đều cầnNgười lớn bị trái rạ có nguy cơ cao dẫn đến các biến chứng, thậm chí tử vong. ẢNH MINH HỌA

3. Vắcxin trái rạ (thủy đậu)

Người lớn và trẻ em đều có thể mắcthủy đậu- thậm chí tử vong vì những biến chứng của căn bệnh này như: viêm phổi, nhiễm trùng não, xương, da và mạch máu.

Trước khi loại vắcxin này được sử dụng ở Mỹ vào năm 1995, mỗi năm có khoảng 100 người chết và hơn 11.000 người phải nhập viện vì thủy đậu. Thậm chí trẻ em bị nhẹ cũng đã phải nghỉ học tới 6 ngày.

Người lớn bị trái rạ có nguy cơ cao dẫn đến các biến chứng, nhập viện và tử vong. Ví dụ, viêm phổi do trái rạ xảy ra ở phụ nữ mang thai sẽ rất nghiêm trọng và là trường hợp cấp cứu. Nếu không điều trị, hầu hết phân nửa trong số họ sẽ tử vong. Nếu bị trái rạ bạn sẽ có nguy cơ bị zona (bịnh giời leo), do đó, vắcxin trái rạ có thể giúp bạn phòng bệnh zona phần nào. Vắcxin cũng giúp làm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng, đặc biệt ở những người có cơ địa dễ mắc bệnh nhưng không thể tiêm vắcxin như phụ nữ mang thai. Từ 13 tuổi trở lên, nên tiêm hai liều vắcxin cách nhau từ 4 - 8 tuần.

4. Vắcxin ngừa zona, đặc biệt cho người trên 60 tuổi

Loại virút khiến bạn bị thủy đậu khi còn nhỏ có thể tái hoạt động và gây ra zona ở tuổi trưởng thành. Hầu hết những người trên 60 tuổi, có xuất hiện mụn nước và đau do zona có thể gây tổn thương mắt và gây ra chứng đau sau zona. Nếu bạn có những mụn nước này, bạn cũng có thể lây nhiễm thủy đậu cho người khác. Theo khuyến cáo, những người trên 60 tuổi nên tiêm một liều vắcxin để phòng zona.

5. Vắcxin HPV cho nam giới và phụ nữ

HPV là loại virút lây truyền qua đường tình dục. Vắcxin HPV giúp chống lại một số týp HPV gây ra hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và nhiều trường hợp ung thư họng ở nam giới. Vắcxin này có thể phòng hầu hết những mụn cóc ở cả nam và nữ. Nên tiêm vắcxin sớm cho những trẻ từ9tuổi, nhưng những người lớn trẻ tuổi, đặc biệt là nếu chưa quan hệ tình dục cũng có thể tiêm vắcxin. Vắcxin HPV được tiêm cho cả nam và nữ đến 26 tuổi.

Vắcxin được tiêm làm 3 liều:

Người lớn trưởng thành thường đã có kháng thể để chống lại một số tác nhân gây bệnh do chúng ta đã từng tiếp xúc với các nguyên nhân này nhưng không bị bệnh hoặc đã khỏi bệnh. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tác nhân gây ra những bệnh nguy hiểm mà chúng ta có khả năng phòng ngừa được bằng cách tiêm vắcxin.Vì thế, người lớn cũng cần phải tiêm ngừa một số vắcxin để ngừa các bệnh như: viêm gan siêu vi, viêm màng não do não mô cầu, viêm phổi do phế cầu, cúm, Rubella, trái rạ…Hơn nữa, có ít nhất 10% số người đã được tiêm ngừa lúc nhỏ cần được tiêm nhắc lại vì hiệu lực bảo vệ của vắcxin giảm theo thời gian như bệnh uốn ván ở người trưởng thành, bệnh bạch hầu ho gà, thủy đậu…

(Còn tiếp)

BS. CAO HOÀI NH N

(BV. Nguyễn Tri Phương)

Hàm lượng canxi cao làm tăng nguy cơ đau tim

Bệnh động mạch vành (CAD), thường gây ra các cơn đau tim, là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất trên toàn cầu. Theo Trung tâm Kiểm soát v...